Chủ Nhật, 28 tháng 12, 2014

BẢNG MÔ TẢ CÔNG VIỆC CHUYÊN VIÊN NGHIÊN CỨU NGUỒN NHÂN LỰC

I. THÔNG TIN CHUNG:
1. Tên chức danh:       CHUYÊN VIÊN NGHIÊN CỨU NGUỒN NHÂN LỰC
2. Mã chức danh:  PNS-CV-NC
3. Đơn vị công tác: Ban PTNL
4. Địa chỉ nơi làm việc:  TP. Hà Nội

II. QUYỀN HẠN:
  1. Quyền hạn trực tiếp:
-          Yêu cầu các đơn vị, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin theo yêu cầu nghiên cứu.
-          Phỏng vấn các đối tượng, tham quan hiện trường, xem xét hồ sơ, tài liệu trong phạm vi đề tài nghiên cứu.
-          Từ chối tiết lộ thông tin mật hoặc danh tánh khi chưa được sự đồng ý của người cung cấp thông tin.
-          Quyết định phương pháp nghiên cứu phù hợp với đề tài nghiên cứu được giao.
-          Tham khảo tài liệu, thông tin trên sách báo, Internet.
-          Thảo luận trực tiếp với các cá nhân, đơn vị, tổ chức tư vấn.
-          Gia hạn thời gian góp ý các văn bản, phương án của các đơn vị phù hợp với quỹ thời gian làm việc.
-          Bảo lưu ý kiến đối với các báo cáo, đề tài nghiên cứu.
  1. Quyền hạn gián tiếp:
-          Đề xuất kinh phí, nhân lực, phương tiện để thực hiện các đề tài nghiên cứu được giao.
-          Đề xuất xử lý kỷ luật cá nhân, đơn vị gây cản trở việc thu thập thông tin, chậm trễ việc cung cấp thông tin hoặc không phối hợp triển khai thực hiện các chương trình nghiên cứu được duyệt.
IV. NHIỆM VỤ:
  1. Nhiệm vụ hàng ngày:
-          Kiểm tra mail và tiếp nhận các thông tin phân công, giao nhiệm vụ của Trưởng Phòng PTNL.
-          Tìm kiếm, thu thập tài liệu / thông tin phục vụ cho công tác nghiên cứu.
-          Thảo luận, trao đổi thông tin, phân công / phối hợp giữa các thành viên thuộc nhóm / đề tài nghiên cứu.
-          Hướng dẫn các đơn vị thực hiện các bước thu thập thông tin, triển khai các giải pháp được duyệt cho áp dụng.

  1. Nhiệm vụ hàng năm:
-          Báo cáo tổng kết công tác nghiên cứu đã triển khai thực hiện trong năm.
-          Xây dựng mục tiêu và chương trình nghiên cứu hằng năm.

  1. Nhiệm vụ không có tính định kỳ:
-          Soạn thảo phương án thực hiện cho từng đề tài nghiên cứu.
-          Thiết kế các biểu mẫu để thu thập dữ liệu.
-          Thu thập thông tin về chức năng của từng đơn vị trong công ty cũng như nhiệm vụ cụ thể của từng cá nhân liên quan đến nội dung đề tài nghiên cứu.
-          Thảo luận với các trưởng đơn vị và phỏng vấn các cá nhân về các vấn đề có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
-          Đánh giá vai trò, phương pháp, cơ chế quản lý đang được áp dụng cũng như thời gian và các vấn đề liên quan đến việc thực hiện của các đơn vị thuộc đối tượng, mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
-          Tham khảo các hồ sơ, tài liệu, văn bản, báo cáo, mô tả công việc để thu thập thêm thông tin.
-          Nghiên cứu các dữ liệu như báo cáo thống kê, sơ đồ tổ chức của các đơn vị.
-          Xác định các vấn đề, nguyên nhân và đề ra các giải pháp cải tiến, thay đổi bao gồm cả việc ước tính chi phí, lợi ích để thực hiện các giải pháp.
-          Soạn thảo báo cáo kết quả nghiên cứu cùng các số liệu, bằng chứng thu thập được để hỗ trợ cho những kết luận và giải pháp được đề xuất.
-          Biên soạn tài liệu, hướng dẫn các trưởng đơn vị triển khai thực hiện các hệ thống quản lý mới.
-          Thảo luận và phối hợp với các chuyên viên, đơn vị tư vấn thực hiện các đề tài nghiên cứu.
-          Tham gia phỏng vấn tuyển dụng các chức danh có yêu cầu trình độ đại học trở lên.
-          Chủ trì triển khai các quy định, hướng dẫn thực hiện cho các đơn vị đối với các lĩnh vực quản trị nguồn nhân lực.
-          Tham gia công tác kiểm tra công tác quản trị nguồn nhân lực ở các đơn vị theo phân công.

V. QUỸ THỜI GIAN LÀM VIỆC:
    1. Làm việc tại văn phòng:          85%
- Tiếp nhận và xử lý mail:                               10%
- Nghiên cứu hồ sơ, tài liệu:                            20%
- Thiết kế các biểu mẫu nghiên cứu:   15%
- Tổng hợp thông tin:                                      15%
- Phân tích thông tin:                                      10%
- Soạn thảo văn bản:                                       15%
    1. Làm việc tại hiện trường:        15%
- Thảo luận với các đơn vị:                             5%
- Phỏng vấn các cá nhân:                                5%
- Quan sát hiện trường:                                   5%

VI. CÁC MỐI QUAN HỆ CÔNG TÁC:
Phạm vi
Cá nhân, đơn vị có quan hệ
Mục đích quan hệ
Thời điểm quan hệ
Nội bộ
Bên ngoài
X

Trưởng Phòng PTNL
Tiếp nhận nhiệm vụ, báo cáo kết quả công việc.
Khi phát sinh vấn đề nghiên cứu và kết thúc nghiên cứu.
X

Các trưởng đơn vị
Thảo luận, trao đổi, yêu cầu cung cấp thông tin, hồ sơ, tài liệu của đơn vị có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
Hướng dẫn / phối hợp triển khai các giải pháp mới.
Khi phát sinh nhu cầu.

X
Các đơn vị tư vấn bên ngoài
Thảo luận, phối hợp, giám sát việc thực hiện dự án tư vấn.
Theo hợp đồng, kế hoạch triển khai.

VIII. PHƯƠNG TIỆN LÀM VIỆC:
-          Bàn ghế làm việc, tủ đựng hồ sơ.
-          Máy vi tính.
-          Điện thoại bàn, Internet.
-          Các phần mềm tin học: Word, Excel, Access, Powerpoint, Acrobat, quản lý nhân sự.
-          Các văn bản, tài liệu, sách báo tham khảo liên quan đến quản trị nhân sự, quản lý doanh nghiệp, văn bản pháp luật lao động.

IX. TIÊU CHUẨN CHỨC DANH
  1. Trình độ chuyên môn: Đại học Quản trị Nguồn nhân lực hoặc Quản trị công nghiệp.
  2. Kiến thức: Quản lý doanh nghiệp (Trung cấp)
  3. Ngoại ngữ: Anh văn (đọc hiểu trình độ C)
  4. Kỹ năng: Hoạch định, Tổ chức, Đánh giá, Phỏng vấn, Giao tiếp nhân sự, Thuyết trình, Soạn thảo văn bản.
  5. Tố chất: Trung thực, sáng tạo, tiếp thu nhanh.

Tuyển sinh


CƠ HỘI LÀM VIỆC TRONG NGÀNH XÂY DỰNG & GIAO THÔNG VẬN TÀI
I. Sau khi hoàn thành 1 trong các khóa học Nghiệp vụ:

1. Định giá Xây dựng (15 buổi)'. Học phí 1.500.000 đ/Học viên.

2. Xây dựng cơ bản (gồm 9 lĩnh vực): thời gian đào tạo & Học phí - tùy theo từng lĩnh vực.

3. Giao dịch Bất động sản (gồm 3 lĩnh vực - 01 tháng): Học phí 3.100.000 đ/Học viên/31ĩnh vực.

II. Đối tượng dự tuyển: từ 18 tuổi trở lên có đủ sức khỏe, lý lịch rõ ràng gồm 3 trường hợp:

1. Nhân viên đang làm việc tại các Cơ quan/Đơn vị trong và ngoài ngành Xây dựng có nhu cầu;

2. Học viên đang học tại các Trường: Trung cấp, Cao đẳng, Đại học;

3. Học viên tự do có nhu cầu, đủ năng lực và trình độ theo học;

4. THI - Giấy giới thiệu của Cơ quan/Đơn vị: đối với Học viên đang công tác;

TH2 - Bản sao thẻ Sinh viên còn hiệu lực: đối với Học viên theo học tại các Trường;

TH3 - Bản sao công chứng: Học bạ và Bằng PTTH đối với Học viên tự do;

5. Sơ yếu lý lịch có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền còn thời hạn 06 tháng;

6. Bản sao công chứng: CMND + HK thường trú + Bằng PTTH và các Chứng chỉ (nếu có);

7. Ảnh màu 4x6: (Mảnh chụp trong vòng 06 tháng tính đến ngày nộp hồ sơ;

8. Đơn đăng ký tham dự khóa học: theo mẫu do Phòng Đào tạo cấp..

III. Thòi gian nộp hồ sơ, sơ tuyển và địa điểm học:

Trong giờ hành chính từ 08h00 đến 16h30 trừ Chủ nhật và ngày Lễ.

Tại Trung tâm Phát triển Nguồn nhân lực GTVT - Viện Chiến lược và Phát triển GTVT - 162 Trần Quang Khải - Hoàn Kiếm - Hà Nội.

Khác biêt của chương trình là tính thưc tế đề phuc vu chuyên môn công viêc:

1. Đào tạo sát thực tê, chương trình do Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Thạc sĩ là Giảng viên Trường Đại học

GTVT và Cán bộ/Chuyên gia có nhiều kinh nghiệm thực tế về Quản lý và Đào tạo tại: Bộ Xây dựng, Tổng cục đường bộ VN - Bộ GTVT, Viện Chiến lược và Phát triển GTVT - Bộ GTVT, Viện đào tạo phát triển Đô thị bền vũng, ... trực tiếp tham gia giảng dạy và truyền đạt kiến thức:

1.1 Định giá Xây dựng: Học trên Giáo trình khung Bộ Xây dựng theo thực tế nhu cầu công việc. Học viên đạt yêu cầu được cấp “Chúng chỉ/Chúng nhận” theo Qui định Bộ Xây dụng có giá trị Toàn Quốc. Được hỗ trợ giới thiệu việc làm tại các Doanh nghiệp xây dựng uy tín trên thị trường nếu Học viên đáp ứng các yêu cầu của nhà tuyển dụng, với mức thu nhập hấp dẫn.

1.2 Xây dựng cơ bản: Học trên Giáo trình khung Bộ Xây dựng theo thực tế nhu cầu công việc. Học viên đạt yêu cầu được cấp “Chúng chỉ/Chứng nhận” theo Qui định Bộ Xây dụng có giá trị Toàn Quốc. Được hỗ trợ giới thiệu việc làm tại các Doanh nghiệp xây dựng uy tín trên thị trường nếu Học viên đáp ứng các yêu cầu của nhà tuyển dụng, với mức thu nhập hấp dẫn.

1.3 Giao dịch Bất động sản: Học trên Giáo trình khung Bộ Xây dựng theo thực tế nhu cầu công việc. Học viên đạt yêu cầu được Trường Đại học GTVT “Chúng chỉ” theo Qui định Bộ Xây dựng có giá trị Toàn Quốc. Được hỗ trợ giới thiệu việc làm tại các Công ty xây dựng, Công ty kinh doanh Bất động sản uy tín trên thị trường nếu Học viên đáp úng các yêu cầu của nhà tuyển dụng, với mức thu nhập hấp dẫn.

2. Giảm học phí: cho nhóm từ 3-5 học viên đăng ký trở lên và Sinh viên đang học tại các Trường.

*l* Tham khảo chi tiết Chương trình học trong flle đính kèm hoặc liên hệ về:

Viện Chiến lưực và Phát triển GTỴT - Trung tâm phát triển nguồn nhân lực GTVT

1. Địa chỉ : 162 Trần Quang Khải, Hoàn Kiếm, Hà Nội

2. Điện thoại : 04.38240613

3. ThS. Nguyễn Văn Quyền : 0913363575

4. TS. Trương Anh Tuấn : 0983690356


Xây dựng nghề trọng điểm: Cơ hội và thách thức

Để đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực trong thời kỳ hội nhập và phát triển của đất nước, đặc biệt là nhu cầu về đội ngũ công nhân kỹ thuật tay nghề cao, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã phê duyệt cho một số trường nghề xây dựng các nghề trọng điểm cấp quốc gia, khu vực ASEAN và quốc tế. Trên địa bàn tỉnh Hưng Yên có 3 trường được đầu tư xây dựng nghề trọng điểm cấp quốc gia và khu vực ASEAN với 8 nghề trọng điểm đã được phê duyệt.
Cơ hội cho các trường nghề
Ông Nguyễn Thành Hoàng, Hiệu trưởng Trường Trung cấp nghề Hưng Yên cho biết, Trường được phê duyệt đầu tư 3 nghề trọng điểm quốc gia gồm: Kỹ thuật máy lạnh và điều hòa không khí; điện tử công nghiệp; cắt gọt kim loại. Theo “Dự án đầu tư tập trung đồng bộ 3 nghề trọng điểm” đã được UBND tỉnh phê duyệt cho nhà trường giai đoạn 2011-2015, nhà trường sẽ được đầu tư gần 400 tỷ đồng, bao gồm vốn của chương trình mục tiêu quốc gia và một số nguồn vốn khác nhằm bảo đảm các điều kiện của nghề trọng điểm quốc gia theo quy định. Các hạng mục đầu tư gồm: Mở rộng, xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm máy móc, trang thiết bị phục vụ giảng dạy, thực hành nghề, xây dựng chương trình, giáo trình, đào tạo giáo viên… Về đội ngũ, gần 90% số cán bộ, giáo viên nhà trường có trình độ đại học, 6 cán bộ, giáo viên đang đào tạo sau đại học. Theo dự án này, trường sẽ xây dựng thêm nhà học lý thuyết 12 tầng và nhà ký túc xá 5 tầng, với tổng diện tích được mở rộng gần 15 nghìn m2. Ông Hoàng cho rằng, thực hiện chủ trương xây dựng nghề trọng điểm quốc gia, nhà trường sẽ có những thay đổi mạnh mẽ về quy mô, chất lượng đào tạo. Trường Trung cấp nghề Hưng Yên là một trong 3 trường nghề trên địa bàn tỉnh được đầu tư xây dựng nghề trọng điểm, với tổng số 8 nghề trọng điểm đã được phê duyệt. Trong đó, 1 nghề đào tạo theo cấp độ ASEAN và 7 nghề đào tạo theo cấp độ quốc gia.
Trường trung cấp nghề Giao thông vận tải Hưng Yên được phê duyệt đầu tư 2 nghề trọng điểm cấp quốc gia gồm: Xây dựng cầu đường bộ; vận hành máy thi công nền.
Với những thành tích trong các cuộc thi khu vực, Trường Cao đẳng nghề Cơ điện và Thủy lợi được phê duyệt 3 nghề trọng điểm. Trong đó 1 nghề đào tạo theo cấp độ ASEAN là điều khiển tàu cuốc; 2 nghề trọng điểm cấp độ quốc gia là vận hành và sửa chữa trạm bơm điện, điện công nghiệp. Ông Dương Đức Phương, hiệu trưởng nhà trường cho biết, đầu tư xây dựng nghề trọng điểm cấp khu vực sẽ là cơ hội để trường vươn ra hội nhập khu vực, đồng thời tạo điều kiện cho người học có thể tìm việc ở nước ngoài với bằng cấp đào tạo trong nước.
Việc xây dựng nghề trọng điểm được đánh giá là cơ hội lớn cho các trường nghề mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng đào tạo. Các trường nghề được phê duyệt nghề xây dựng nghề trọng điểm sẽ được đầu tư tập trung đồng bộ các yếu tố bảo đảm chất lượng đào tạo nghề như: cơ sở vật chất, trang thiết bị, chương trình, giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề... Ngoài nguồn vốn của đơn vị, các trường sẽ được hỗ trợ kinh phí từ ngân sách các cấp để đầu tư đạt chuẩn theo cấp độ của từng nghề đã được phê duyệt.
Được biết, Tổng cục dạy nghề (Bộ Lao động Thương binh và Xã hội) đã tính toán để các nghề trọng điểm của mỗi trường ở một tỉnh cũng như trong khu vực sẽ không trùng nhau, tránh chồng chéo, gây lãng phí, dễ dàng hơn trong tuyển sinh. Bên cạnh đó, việc lựa chọn các nghề trọng điểm cũng bám sát nhu cầu xã hội, đặc điểm vùng miền để mang lại hiệu quả cao, người học dễ tìm được việc làm sau khi ra trường, cơ sở sản xuất dễ dàng tìm được lao động đáp ứng yêu cầu...
Và thách thức…
Việc đầu tư xây dựng các nghề trọng điểm cấp độ quốc gia, khu vực và quốc tế được các trường nghề đánh giá là một chủ trương đúng nhằm đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc hội nhập. Tuy nhiên, việc xây dựng các nghề trọng điểm đặt ra nhiều thách thức trong việc bảo đảm hiệu quả như mục tiêu đề ra bởi những khó khăn hiện tại.
Vấn đề đầu tiên (đã tồn tại từ nhiều năm nay đối với các trường nghề và nếu không có sự cải thiện sớm chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả của các nghề trọng điểm), đó là vấn đề khó tuyển sinh. Năm 2011, Trường Trung cấp nghề Hưng Yên tuyển sinh đạt bình quân gần 60%, tăng 20% so với kỳ tuyển sinh năm trước, đã được coi là thắng lợi. Nhiều trường khác trên địa bàn tỉnh, số lượng tuyển sinh đều thiếu nhiều so với chỉ tiêu đề ra, nhất là các ngành nghề đào tạo dài hạn. Nguyên nhân mấu chốt của tình trạng này được cho là tâm lý “trọng thầy, khinh thợ”, coi trọng bằng cấp đại học, xem nhẹ bằng nghề do chưa có sự công bằng trong sự đánh giá tôn vinh cũng như chế độ chính sách được hưởng của người có bằng nghề và người có bằng đại học khi ra công tác. Hơn nữa, các trường đại học, cao đẳng lại không ngừng mở rộng quy mô, nhiều trường mới được thành lập, tỷ lệ học sinh đỗ đại học ngày càng tăng... vì vậy số học sinh mặn mà với trường nghề ngày càng hiếm hoi. Bởi thế, việc xây dựng nghề trọng điểm lớn đến bao nhiêu, đạt tiêu chuẩn cấp độ quốc gia hay quốc tế cũng sẽ không mang lại hiệu quả như mục tiêu đề ra nếu số lượng tuyển sinh được quá ít thậm chí không tuyển sinh được…
Không những thế, lượng thiết bị máy móc phục vụ thực hành ở các trường nghề tuy được đầu tư với kinh phí lớn, số lượng nhiều nhưng dễ dàng lạc hậu rất nhanh so với thực tế sản xuất tại các doanh nghiệp. Và khi doanh nghiệp thường xuyên phải đào tạo lại lao động sau khi tuyển dụng vì kỹ năng và kiến thức không bảo đảm yêu cầu, đồng nghĩa với việc lạc hậu của các trường nghề trong đào tạo các ngành nghề, dù là nghề trọng điểm cấp nào đi nữa. Một mô hình đã được đưa ra nhằm bảo đảm chất lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp và đem lại lợi ích cụ thể cho doanh nghiệp là liên kết đào tạo giữa trường nghề và doanh nghiệp. Tuy vậy, đến nay trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, hầu như chưa có ngành nghề nào được đào tạo nhờ liên kết…


Chủ trương xây dựng nghề trọng điểm nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề, đáp ứng yêu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Trước hết, các trường nghề cần không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo để khẳng định thương hiệu, thu hút học viên. Tuy nhiên về lâu dài, cần có chính sách bảo đảm sự công bằng trong đánh giá giữa người tốt nghiệp đại học và tốt nghiệp trường nghề. Khi trường nghề thu hút được đông người học, đề án xây dựng các nghề trọng điểm mới bước đầu đạt được hiệu quả.

Tính cấp thiết của công tác dự báo nhu cầu nhân lực trong ngành Giao thông vận tải hiện nay.

Tác giả: TS Trương Anh Tuấn
PGĐ. Trung tâm Nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực GTVT
Viện Chiến lược và Phát triển GTVT
Công tác dự báo nhu cầu nhân lực tại Việt Nam trong  thời gian qua còn rất nhiều hạn chế. Đây là đánh giá của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tại Hội nghị đánh giá hiệu quả sàn giao dịch việc làm và công tác dự báo nhu cầu nhân lực vừa được tổ chức tại Hà Nội, ngày 10/9/2010. Đánh giá này cũng đúng trong công tác dự báo nhu cầu nhân lực của ngành GTVT nói riêng. Các hạn chế trong công tác dự báo nhu cầu nhân lực thể hiện ở các số liệu, cơ sở dữ liệu đầu vào chủ yếu phục vụ cho dự báo đơn giản ở cấp vĩ mô, cấp Trung ương, thiếu các số liệu dự báo phục vụ cho cấp vi mô, cấp địa phương, trong ngắn hạn và dài hạn; thiếu nghiêm trọng các dự báo cụ thể về nhu cầu nguồn nhân lực theo số lượng, ngành nghề, trình độ, kỹ năng… Hiện nay, Trung tâm Quốc gia dự báo và thông tin thị trường lao động thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã được thành lập ngày 30/10/2009, theo chỉ đạo của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân và là đầu mối chính trong công việc này ở cấp quốc gia. Theo dự báo của trung tâm này, đến năm 2020, số lao động toàn quốc có việc làm sẽ tăng từ 48.015 triệu năm 2009 lên 56.950 triệu vào năm 2020. Trong dài hạn, cơ cấu lao động theo ngành kinh tế sẽ phát triển theo hướng giảm dần trong các ngành sản xuất nông nghiệp, gia tăng trong ngành công nghiệp và dịch vụ. Đến năm 2020 cung lao động vẫn tăng trội hơn về số lượng so với nhu cầu và không phù hợp về cơ cấu cũng như chất lượng, sẽ tạo thêm áp lực việc làm và khó giảm được tỷ lệ thất nghiệp (xoay quanh con số 2,5%)… Trong ngành GTVT, Chưa có cơ quan nào cung cấp số liệu dự báo nhu cầu nhân lực cho bộ GTVT theo số lượng, ngành nghề, trình độ, kỹ năng…
Những hạn chế của việc dự báo trên đã ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả đào tạo và hoạch định chiến lược GTVT để đáp ứng được nhu cầu của thị trường. Công tác dự báo thị trường lao động trong ngành GTVT vẫn còn bộc lộ một số hạn chế như: Các số liệu, cơ sở dữ liệu đầu vào chủ yếu phục vụ cho dự báo đơn giản ở cấp vĩ mô, cấp trung ương, thiếu các số liệu dự báo phục vụ cho cấp vi mô, cấp địa phương, trong ngắn hạn và dài hạn; thiếu nghiêm trọng các dự báo cụ thể về nhu cầu nguồn nhân lực trong ngành GTVT theo các chuyên ngành đường sắt, sông, biển, bộ và đường thủy nội địa... ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả đào tạo để đáp ứng được nhu cầu của thị trường, và đã gây không ít khó khăn cho các doanh nghiệp GTVT trong việc tuyển dụng lao động.
Tại Việt Nam, trong những năm qua, xuất phát từ vai trò quan trọng của công tác dự báo thị trường lao động trong hoạch định chính sách, định hướng đào tạo, kết nối cung - cầu, phân bổ và sử dụng nguồn nhân lực, đã có sự phối hợp với trường Đại học Maryland (Hoa Kỳ) và Trường Đại học kinh tế quốc dân áp dụng các mô hình dự báo cung - cầu lao động (mô hình Lotus, mô hình phối hợp tiếp cận hàm sản xuất và tăng trưởng, mô hình dự báo nhu cầu ngắn hạn của Thụy Điển), xây dựng mô hình và dự báo lực lượng lao động, nhu cầu việc làm theo nghề đến năm 2020. Bước đầu đã có các dự báo ngắn hạn hàng năm về việc làm theo nghề, xây dựng biểu nghề cho từng tỉnh, thành phố và cả nước; đánh giá mức độ cung đáp ứng cầu lao động trong những năm tới; tham gia tổ chức thu thập thông tin, xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu thị trường lao động; quản lý và vận hành cổng thông tin điện tử việc làm, báo cáo đánh giá hàng năm xu hướng việc làm…
Ngày 10/9/2010, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Nguyễn Thị Kim Ngân cho rằng, thời gia tới, cần tiếp tục đẩy mạnh các giải pháp như: Nâng cao trình độ, năng lực cho cán bộ làm công tác dự báo; phối hợp với các tổ chức, chuyên gia quốc tế trong thực hiện phân tích, xây dựng mô hình dự báo thị trường lao động phù hợp với điều kiện Việt Nam. Bên cạnh đó, chúng tôi thấy việc có một cơ quan nghiên cứu dự báo về nguồn nhân lực trong ngành GTVT, thành lập mạng thông tin quản lý nguồn nhân lực gồm hệ thống thông tin về giáo dục đào tạo, hệ thống thông tin thị trường lao động; đẩy mạnh xã hội hóa để tăng cường huy động các nguồn vốn cho phát triển nhân lực; tăng đầu tư phát triển cả về giá trị tuyệt đối và tỷ trọng trong tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội vào ngành GTVT là nhu cầu cấp bách trong giai đoạn này. Trong dài hạn, vấn đề lao động của Việt Nam đặc biệt là của ngành GTVT vẫn đang bức xúc, cần được xem xét, xử lý một cách toàn diện. Nên chăng, ngành GTVT cần tăng cường công tác dự báo thị trường lao động của ngành GTVT theo hướng: Hoàn thiện mô hình dự báo dài hạn và ngắn hạn phù hợp với điều kiện Việt Nam và đặc thù của ngành GTVT; hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường lao động, xây dựng cơ sở dữ liệu ngành GTVT về  thị trường lao động đáp ứng yêu cầu phân tích và dự báo; có đơn vị làm nhiệm vụ dự báo thị trường lao động phục vụ xây dựng chiến lược, kế hoạch đầu tư phát triển của ngành. Để thực hiện định hướng trên, cần tiếp tục đẩy mạnh việc: Nâng cao trình độ, năng lực cho cán bộ làm công tác dự báo; phối hợp với các tổ chức, chuyên gia quốc tế trong thực hiện phân tích, xây dựng mô hình dự báo thị trường lao động phù hợp với điều kiện Việt Nam và ngành GTVT; hoàn thiện hệ thống các văn bản liên quan đến chính sách về thị trường lao động trong ngành GTVT, chú trọng đến kế hoạch phát triển nguồn nhân lực dài hạn. Bên cạnh đó, cần giao nhiệm vụ cho một cơ quan chuyên nghiên cứu nội dung này để thành lập mạng thông tin quản lý nguồn nhân lực gồm hệ thống thông tin về giáo dục đào tạo, hệ thống thông tin thị trường lao động; đẩy mạnh xã hội hóa để tăng cường huy động các nguồn vốn cho phát triển nhân lực; tăng đầu tư phát triển cả về giá trị tuyệt đối và tỷ trọng trong tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội vào ngành GTVT. Cần tăng cường hợp tác quốc tế để phát triển thị trường lao động của ngành GTVT, mở rộng đa dạng hóa các mối quan hệ song phương và đa phương cấp Chính phủ.
 Kiến nghị lãnh đạo Bộ GTVT có quy định cụ thể về cơ quan chịu trách nhiệm nghiên cứu dự báo nguồn nhân lực cho ngành GTVT, trong đó có biên chế, đầu tư trang thiết bị cần thiết cũng như kinh phí hoạt động thường xuyên; từng bước hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường lao động, cơ sở dữ liệu thị trường lao động của ngành GTVT phục vụ tốt sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
(Tài liệu hội thảo tại ĐH KTQD năm 2011)

浅谈关于强化从业人员资格管理保障道路运输生产安全

内容介
   :改革开放以来,道路运输业得到了较快发展,综合运输体系中的优势地位和基础性作用明显增强.但是,对快速发展的国民经济对道路运输的需求形势,们的道路运输业还远远不能适应.营运驾驶员队伍在道路运输业中是最为关键的人的因素,是运输生产力的组成部分.
  关键词:道路运,业人员,输生产
  开展营运驾驶员职业培训重要意义多年来,由于道路运输市场的放开,使我们的道路运输营运车辆和驾驶员不断增加.目前,龙江省有营运车辆 17 万台,营运驾驶员 24 万名.一方面他们为运输经济发展起到积极作用,另一方面我们也可以看到进入运输市场的从业人员良莠不齐,质不同导致经常出现偷拉私运、野蛮服务、偷漏税费、事故频发等现象.因此,为了加强对营运驾驶员的管理,国家交通部出台了《营业性道路运输驾驶员职业培训管理规定》.
  1.1 开展营运驾驶员职业培训是道路运输业发展的需要国家交通部在十五期间道路运输工作的总体目标中提出,实现"业服务质量明显改善,道路运输重要岗位从业人员中,营运驾驶员持证上岗率达100%,修理工、乘务员等重要岗位的从业人员持证上岗率达 60%以上,一二级客货运输企业、二级以上客货运输站场国际质量认证率达到15%以上,客运'优、三化'务明显加强,货运商务事故率明显降低,道路运输企业交通安全事故率、年重特大安全事故次数和死伤人数分别降低 10%".但从目前情况看,我国交通事故每年都在增长,属于驾驶员为主要因素的事故约占70%以上,近几年重大的客、货车和危险货物运输车辆的重大事故也时有发生.营运车辆的重大事故造成的人身和经济损失是十分巨大的.险货物运输车辆的重大事故往往在经济损失之外,还会酿成对环境的严重污染,发更为严重的生态环保问题.,因运输服务质量差,宰客、甩客、超载现象屡禁不止,不按安全行车操作要求驾驶车辆、疲劳驾驶等情况也时有发生.由于交通运输事故频发,旅客、货主的生命财产安全缺乏应有的保障,社会反响十分强烈.
  1.2 开展营运驾驶员职业培训是保证道路运输安全的重要手段营运驾驶员是运输生产一线直接服务社会、服务旅客和货主的主要工种,负着比为单位内部、个人服务的普通驾驶员更重大的社会和经济责任.职业的特殊性决定了营运驾驶员应当具备相应的职业道德、运输服务知识和服务技能,了解道路运输法规业务规范,时还要掌握一定的车辆维修、故障处理知识和娴熟的驾驶技能.
  营运汽车驾驶员不仅关系国家、人民生命财产的安全,也直接关系着驾驶员个人的生命和家庭幸福的安危.
  1.3 开展营运驾驶员职业培训是与世界通行的管理模式接轨的需要发达国家普遍将驾驶员分为私家车驾驶员和商用车驾驶员两类分别进行管理,应地把驾驶员培训也分为私家车驾驶员培训和商用车驾驶员培训.私家车驾驶员培训是汽车驾驶技能的普及培,为人们进入社会开始工作和新的生活进行的特殊能力补充.
  但在这些国家如果准备从事营业性道路运输,为职业驾驶员,除需具有一定的私家车驾龄要求外(如美国规定为 3 ),还必须参加商用车驾驶员的职业培训.谓职业培训,实质是进行职业技能、职业道德、职业规范的全面教育过程,其培训内容广、项目多、要求严、时间长(如美国商用车驾驶员培训时间为200~300).
  同时他们对于已从事营业性道路运输的商用车驾驶员,还采取每隔几年进行再教育的办法 (如日本规定每隔 3 对职业驾驶员进行轮训检测),以保证从业人员的技能和素质水平.
  开展职业培训工作发展的根本途径2.1 强师资队伍建设,提高培训质量职业培训工作的开展,员教练员如果没有经过系统全面的培训,整体教练水平不高,将影响培训质量.
  黑龙江省现有教员教练员300,为此要把教员教练员的培训作为一项重点工作来抓,定期举办教员教练员培训班,使所有的受训人员系统地学习驾驶理论,实际操作技能以及职业道德规范等,经考试合格后核发"华人民共和国营运驾驶员准教证".过系统的培训,员教练员的执教水平得到明显提高.时还可以举办全省职业培训教员,练员大比武活动,这样既可以调动学习热情,又起到考核教员、教练员技能的作用.
  2.2 设立机构,建立考核组织.强职业培训工作要做好营运驾驶员职业培训和考试工作,就要依照合理布局,择优选择的原则在全省范围内设立培训机构.龙江省现有培训单位83 ,这些职业培训机构主要负责在本辖区内需进行职业培训的营运驾驶员的职业培训工作.为职业培训的管理部门应每年对这些职业培训机构进行综合考评,合格的将继续从事职业培训工作,不合格的将取消其职业培训资格.只有推行这样的竞争机制,才能推动职业培训机构的前进步伐,才能促进营运驾驶员职业化的健康发展.
  2.3 运用现代化信息手段,规范从业资格管理工作营运驾驶员职业培训工作任务重,要求高,涉及面广,为了能及时、准确的发放从业资格证,应当在黑龙江省范围内开发和推广微机软件系统.运用现代化信息手段建立以"一个中心,两个系,三个层次"为基础的职业培训管理信息网络.实现信息处理和数据共享."一个中心"是指统一的管理中心,应以行业管理单位为牵头,即黑龙江省运输管理局为行业管理中心,"两个系"是指信息管理建立和传送系统、信息补丁和升级系统",三个层次"是指省、市两级行业管理单位和培训单位.,建立培训学校之间横向联系的信息网络,以及职业培训全过程管理和监督系统,导和鼓励培训单位开发和应用先进的培训和管理技术设备,提高职业培训的科技含量,为全省职业培训行业发展的宏观决策提供快速、可靠、准确的数据和信息,满足职业培训发展的需要.
  不断拓展培训业务范围,步开展站乘人员、汽修人员培训有条件的地市开展汽车驾驶员、修理工技术等级培训.今后,票据使用要严格执行《黑龙江省职业培训专用发票填写使用规定》,各培训办要充分认识到票据使用在我们培训工作中是管理上的一个重要手段.种意义上说,这些票据的使用可直接反映整个培训工作管理是否到位,责任是否明确的一种表现.因此,票据的使用上各培训办须做到登记明确,使用合理,档案对应,账目清晰,以高度的政治责任感,抓好此项工作.